KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG Ở NGƯỜI LỚN TẠI BỆNH VIỆN VÀ TRONG CỘNG ĐỒNG

   Thiếu dinh dưỡng hoặc suy dinh dưỡng là hậu quả khi cơ thể không được cung cấp đầy đủ hoặc giảm khả năng dung nạp các chất dinh dưỡng cần thiết. Tuy rất thường gặp ở bệnh nhân nằm viện cũng như trong cộng đồng, nhưng vì thường không có biểu hiện rõ ràng nên suy dinh dưỡng thường không được phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.

   Tại Châu Âu, hơn 33 triệu người có nguy cơ suy dinh dưỡng. Đáng lưu ý là 1/4  số bệnh nhân trong bệnh viện, 1/3 số bệnh nhân được chăm sóc ý tế tại nhà và 1/3 số người cao tuổi sống độc lập ở nhà đang bị suy dinh dưỡng hoặc có nguy cơ bị suy dinh dưỡng.

   Tại Việt Nam, tỷ lệ  người trưởng thành bị suy dinh dưỡng cũng rất cao. Thống kê cho thấy có đến 40% người trưởng thành Việt Nam có chỉ số khối cơ thể (BMI) <18.5kg/m2.  Đặc biệt, tỷ lệ người trưởng thành nhẹ cân trong bệnh viện cao hơn nhiều so với trong cộng đồng, tỉ lệ này là 33.3%  so với 17.2%. Trong đó, bệnh nhân nằm tại khoa hô hấp (40.9%) và khoa ngoại là (51.3%) là những đối tượng có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất.

   Suy dinh dưỡng không chỉ làm thay đổi hình dáng và cân nặng, mà còn gây ra nhiều hậu quả nặng nề khác như mất khối lượng cơ thể, thể trạng yếu, trầm cảm và suy giảm sức khỏe…

1.Hậu quả của suy dinh dưỡng ở người cao tuổi.

   Với người cao tuổi, tình trạng suy dinh dưỡng đã làm tăng đáng kể các bệnh lý (hội chứng lão khoa) như mất ngủ, đại tiện không kiểm soát, té ngã, suy giảm trí nhớ, rối loạn thần kinh, trầm cảm, cần người chăm sóc, …

2.Hậu quả của suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nằm viện.

   Ở bệnh nhân nằm viện, hậu quả do dinh dưỡng gây ra lại càng nặng nề hơn. So với bệnh nhân không suy dinh dưỡng, bệnh nhân nằm viện có kèm suy dinh dưỡng thường:

– Tăng nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện (tăng gấp 5 lần ở bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng).

– Tăng thời gian nằm viện (trung bình 8.86 so với 5.72).

– Tăng số lượng thuốc dùng (trung bình 5.28 so với 449)

   Bên cạnh đó, suy dinh dưỡng còn làm chậm lành vết thương, tăng nguy cơ té ngã, trầm cảm, tặng sự phụ thuộc,  tăng chi phí điều trị và làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Đáng ngại hơn, nguy cơ tử vong của bệnh nhân sẽ tăng cao khi lượng dinh dưỡng trong thức ăn mà bệnh nhân ăn vào tại bệnh viện giảm thấp. Trong đó, bệnh nhân được phép ăn nhưng lại không ăn là đối tượng có tỉ lệ tử vong cao nhất (OR nhóm được phép ăn nhưng lại không ăn bữa trưa hoặc bữa tối đều > 8).

3.Hậu quả của suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư.

   Suy dinh dưỡng cũng ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị ở bệnh nhân ung thư do làm giảm đáp ứng và làm tăng nguy cơ độc tính (biếng ăn, buồn nuôn, và tiêu chảy,…) với hóa trị liệu. Trong nghiên cứu của Lobato-Mendizabal và cộng sự, trẻ bị ung thư bạch cầu cấp dòng lympho được hóa trị có kèm suy dinh dưỡng tuy có đáp ứng ban đầu tương đương, nhưng đã giảm đáng kể khả năng sống không bị tái phát (DFS – disease free survival) trong vòng 5 năm sau điều trị ban đầu so với trẻ không bị suy dinh dưỡng (26% so với 83%). Nguyên nhân là do trẻ bị suy dinh dưỡng có nhiều độc tính do hóa trị hơn, nên liều và số chu kỳ hóa trị tiếp theo bị giảm thấp hơn, dẫn đến dễ bị tái phát và tử vong hơn trẻ có dinh dưỡng đầy đủ.

   Bên cạnh cân nặng, khối cơ là một thành phần quan trọng cần được xem xét khi đánh giá nguy cơ dinh dưỡng của bệnh nhân. Nghiên cứu đã cho thấy người cao tuổi có xu hướng giản dần khả năng thực hiện các sinh hoạt hằng ngày, tốc độ đi bộ, nhận thức, khả năng phân bố thời gian, … theo mức giảm sức mạnh của cơ thể (thể hiện qua sức bóp bàn tay). Cả trên bệnh nhân ung thư béo phì (BMI >= 30 kg/m2), nguy cơ tử vong đã tăng gấp 4 lần ở bệnh nhân bị mất khối cơ so với người không bị mất khối cơ.

Hướng Tiếp Cận Và Xử Trí Bệnh Nhân Có Nguy Cơ Suy Dinh Dưỡng:

   Trước những hậu quả nặng nề nêu trên, việc tầm soát và xác đinh bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng để can thiệp sớm là rất cần thiết.

   Đầu tiên, bệnh nhân cần được sàng lọc về nguy cơ dinh dưỡng dựa trên chủ số BMI, tình trạng sụt cân , mức giảm lượng thức ăn ăn vào và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Hiện có nhiều phương pháp sàng lọc giúp xác định những bệnh nhân này như MUST (cho người trưởng thành ở cộng đồng), MNA (cho người cao tuổi) và NRS (cho bệnh nhân trưởng thành ở bệnh viện).

   Sau đó, những đối tượng có nguy cơ dinh dưỡng sẽ tiếp tục được đáng giá để chuẩn đoán suy dinh dưỡng nếu có:

1.BMI < 18.5kg/m2

Hoặc

2.Sụt cân >10% (không xác định thời gian) hoặc >5% trong 3 tháng kết hợp với 1 trong 2 yếu tố sau:

  • BMI < 20 kh/m2 nếu <70 tuổi hoặc < 22kg/m2 nếu >70 tuổi.
  • Chỉ số khối không mỡ (FFMI – Fat Free Mass Index) < 15kg/m2 ở nữ và <17kg/m2 ở nam.

   Tùy theo mức suy dinh dưỡng, khả năng ăn uống và tình trạng bệnh hiện có mà bênh nhân sẽ có chiến lược can thiệp dinh dưỡng phù hợp.

   Với những bệnh nhân chán ăn và người cao tuổi, chế độ ăn nên có giá trị dinh dưỡng và tỷ trọng protein cao để đảm bảo cung cấp đầy đủ đinh dưỡng nhưng không cần ăn quá nhiều. Việc tăng số lượng thức ăn ở các đối tượng này thường rất khó. Bên cạnh đó, chế độ ăn uống cũng cần lựa chọn các thực phẩm phù hợp cũng như thường xuyên thay đổi khẩu vị để gia tăng sự ngon miệng và giúp bệnh nhân nhanh chóng hồi phục.

   Việc sử dụng thêm các sản phẩm bổ sung dinh dưỡng, như sữa công thức bên cạnh các bữa ăn hàng ngày cho các đối tượng này cũng nên được cân nhắc. Và, việc bổ sung dinh dưỡng qua đường uống cũng là giải pháp tốt cho các bệnh nhân có vấn đề về dinh dưỡng.

Bổ sung dinh dưỡng đường uống có lợi ích trên từng đối tượng bệnh nhân:

Trên bệnh nhân ung thư dạ dày – ruột: nhóm được can thiệp dinh dưỡng (tư vấn hoặc bổ sung dinh dưỡng) không những đã cải thiện tình trạng dinh dưỡng mà các triệu chứng thường gặp trong quá trình hóa xạ trị (biếng ăn, buồn nuôn, và tiêu chảy,…) cũng giảm khá nhiều. Không những thế, nhóm bệnh nhân được tư vấn dinh dưỡng còn gia tăng tỉ lệ sống còn và giảm độc tính khởi phát muộn sau trung bình 6.5 năm theo dõi.

Trên người cao tuổi: dữ liệu từ thư viện Cochrane sau khi phân tích gộp từ 42 nghiên cứu cho thấy việc bổ sung đạm và năng lượng cho người bị suy dinh dưỡng đã giúp làm giảm 21% nguy cơ tử vong.

Trên bệnh nhân cao tuổi bị gãy cổ xương đùi: nhóm được bổ sung dinh dưỡng cũng đã cho thấy lợi ích trong việc cải thiện tình trạng lâm sàng trong thời gian nằm viện và cả 6 tháng sau đó.

Trên bệnh nhân có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), bổ sung dinh dưỡng đường uống kết hợp với tạp thể dục và uống testosterone (can thiệp đa mô thức) đã giúp bệnh nhân cải thiện đáng kể chỉ số BMI, khối cơ, khả năng vận động và tăng được cả thời gian vận động cho đến khi cảm thấy mệt.

Tóm lại, suy dinh dưỡng là bệnh lý tiềm ẩn và gây nhiều hậu quả nặng nề cho người cao tuổi cũng như bệnh nhân. Việc nâng cao nhận thức cũng như tầm kiểm soát để phát hiện, đánh giá và điều trị sớm là rất quan trọng. Tùy vào từng trường hợp mà bệnh nhân cần được tư vấn và lựa chọn biện pháp can thiệp dinh dưỡng thích hợp. Ở những đối tượng có nhiều trở ngại trong ăn uống như bệnh nhân nằm viện hoặc người cao tuổi các sản phẩm bổ sung dinh dưỡng, đặc biệt là các sản phẩm có giá trị sinh học cao như LEANMAX ADULT và SUPPORTAN, là một lựa chọn giúp bệnh nhân có đầy đủ năng lượng và dưỡng chất thiết yếu để nhanh chóng phục hồi và ngăn ngừa các biến chứng.

 

 

Add your comment